Trang Chủ Giáo Dục Hôm Nay: Xã hội & Giáo hội ngày mai (Thư chung HĐGMVN 2007) Hướng Dẫn

Bài Viết Của
PHẬN NGƯỜI NGHIỆT NGÃ
MỘT LỜI NGUYỆN KHIÊM TỐN
ĐÔI LỜI TÂM SỰ CÙNG EM
PHỦI TAY !
VỎ VÀ RUỘT
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HÔN NHÂN HỖN HỢP VÀ HÔN NHÂN DỊ GIÁO
AI BẢO BỆNH ?
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC : ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP
SỰ ÁC ĐÃ LÊN NGÔI ???
MỘT VÀI SUY TƯ VỀ VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA GIÁO DỤC KITÔ GIÁO TRONG NỀN GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU
ĐAU LÒNG VỚI HAI CHỮ VĂN HOÁ
MỘT VÀI SUY TƯ VỀ VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA GIÁO DỤC KITÔ GIÁO TRONG NỀN GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU

1. Tầm quan trọng của giáo dục 


Từ xưa đến nay, giáo dục bao giờ cũng được coi trọng trong tất cả mọi thể chế xã hội và là điều kiện tiên quyết nếu xã hội ấy muốn thịnh vượng, phát triển. Sách Lễ Ký viết: “Ngọc không giũa không thành đồ, người không học không thành đạo”. Kinh Lễ viết: “Dựng nước, giữdân lấy học làm đầu”; Quản Tử nói: “Kế hoạch một năm không gì bằng trồng lúa, kế hoạch mười năm không gì bằng trồng cây, kế hoạch trăm năm không gì bằng trồng người”. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô le Grand có nói một câu gần như thành ngạn ngữ: “Giáo dục là một nghệ thuật trên hết các nghệ thuật”. Quả thật, con người là một loài thọ tạo cao trọng nhất trong các loài thọ tạo mà Thiên Chúa đã dựng nên. Vì thế, không có gì quý trọng bằng con người,  thì lẽ đương nhiên không có nghề nào quý bằng nghề “Giáo dục con người”, nhất là giáo dục con người theo tôn giáo, theo đường hướng Kitô giáo. Hơn nữa trong niềm tin của người Kitô hữu, giáo dục chính là trọng trách mà Đức Giêsu, trước khi về cùng Chúa Cha, đã trao lại cho Giáo Hội “các con hãy đi giảng dạy muôn dân”[1]. Giáo dục quan trọng là vậy nhưng phải hiểu giáo dục như thế nào cho đúng nghĩa? Và phải làm gì để công tác giáo dục đạt được kết quả cao nhất lại là cả một vấn đề không dễ chút nào. Nhất là trong hoàn cảnh tại Việt nam hiện nay.


2. Định nghĩa về giáo dục


Theo từ điển tiếng Anh, từ “Education” có nghĩa là “giáo dục”. Nó vốn xuất phát từ tiếng Latinh “Educere” có nghĩa là làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của một người sau khi được thụ hưởng sự giáo dục. Ngoài ra, nó còn có nhiều định nghĩa khác về giáo dục như: "giáo dục là việc truyền dạy kinh nghiệm sống của thế hệ trước cho thế hệ sau"; "giáo dục là dạy cho người ta biết hành động"; "giáo dục thực sự là làm bộc lộ năng khiếu của trẻ ra chứ không phải nhồi nhét thông tin vào”…Còn theo quan điểm của Kitô giáo thì việc giáo dục trước hết mang tính nhân bản, khơi dậy sự thiện hảo, hướng dẫn việc khám phá và thưởng thức vẻ đẹp, trợ giúp việc tìm kiếm chân lý phổ quát nơi mỗi con người. Và giáo dục như thế sẽ  dẫn đến ý nghĩa quan trọng hơn và là ý nghĩa sâu xa nhất, là hướng con người về với Đấng Tạo Hoá, là nguồn Chân, Thiện, Mỹ.


Quả thực, một nền giáo dục chân chính và trọn vẹn chắc chắn không chỉ là truyền thụ các tri thức khoa học và xã hội, cho dù kiến thức ấy được trình bày khách quan đến mức nào đi nữa. Bởi bất cứ một nhà giáo dục nào cũng hiểu được rằng nền giáo dục thành công là phải đào tạo được con người cả về đức dục, trí dục và thể dục; làm thế nào hướng con người ta biết tìm về nguồn Chân, Thiện, Mỹ, tìm về với Đấng Tạo Hóa. Nếu không làm được những chuyện như vậy, giáo dục sẽ tan hoang khi đạo đức suy đồi.

3. Hiện trạng giáo dục tại Việt nam hiện nay 


Như ai cũng biết, vấn đề giáo dục đã được xã hội quan tâm, bàn bạc từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, sự quan tâm đó có lẽ chưa bao giờ lại tập trung ráo riết như những năm vừa qua bởi tình hình giáo dục và những “vấn nạn" của nó đã trở nên quá bức xúc. Có thể nói nền giáo dục hiện nay ở Việt nam đang động chạm đến hàng chục triệu người, và những vấn đề của nó khiến hàng chục triệu người thấy đã đến lúc không thể ngồi yên. Tương lai của con cháu họ bị thách thức, thậm chí bị "uy hiếp" nghiêm trọng.


Vì thế đã đến lúc mọi người khẩn thiết nhận ra rằng với một nền giáo dục, một kiểu giáo dục như hiện nay, tương lai của con cái họ hoàn toàn không thể an toàn. Làm sao an tâm được khi: việc cải cách giáo dục, các chương trình học, cơ chế quản lý học sinh của nhà trường...và hàng loạt những vấn đề về giáo dục còn nhiều bất cập chưa giải quyết được thì mọi người lại nhận được những thông tin gây sốc như: Trường mầm non "vỗ béo" trẻ bằng chất độc (cơ sở Mầm non tư thục Thanh Nguyên 2 - TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, cho thuốc Corticoid - loại thuốc rất hại cho sức khoẻ - vào thức ăn của trẻ)[2]; Tại Cà mau có đến 70% giáo viên cấp 1 ở Cà Mau dùng bằng cấp giả để đi học ngành Sư Phạm[3]. Các địa phương khác chắc cũng như  thế thôi. Có khác là khác ở chỗ họ không dám dũng cảm công bố như ở Cà Mau. Đa số giáo viên có đạo đức giả như vậy thì học trò, nhiều thế hệ mang đạo đức ra sao? Trong những năm gần đây, hiện tượng học sinh bỏ học diễn ra rất phổ biến. Chỉ trong vòng chưa đến 6 năm mà có đến 3 triệu rưỡi học sinh bỏ học[4]. Từ hiện tượng này có nhiều ý kiến cho rằng đó chỉ là hiện tượng bề nổi của một tảng băng ngầm chứa đựng nhiều bất cập trong chính sách giáo dục tại Việt nam. Còn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà văn hóa và giới giáo sư đại học lại cho rằng học sinh bỏ học là hệ quả của một chính sách giáo dục lỗi thời, thiếu khoa học, thiếu hiệu quả và không có khả năng tự điều chỉnh để phù hợp với điều kiện xã  hội mới. Tại Hà Tây, năm nào cũng là điểm nóng vi phạm trắng trợn nhất quy chế thi điển hình trong việc coi thường pháp luật để ném bài cho con em mình[5]. Chính việc làm đó nhiều người đã tự đẩy con em mình đến chỗ què cụt về tri thức, bị phụ thuộc vào sự cứu trợ bên ngoài chứ không phải đứng lên bằng cái đầu và đôi chân của mình…Đó chỉ là một vài điển hình nho nhỏ mà nền giáo dục tại Việt nam đang phải đối mặt.


Bên cạnh đó còn có vô số những thối nát khác như sự bất công bằng trong giáo dục: những con em nhà giầu thì được học những trường điểm có cơ sở vật chất tốt, có giáo viên giỏi… còn con em những gia đình nghèo chỉ được học ở những trường mà cơ sở vật chất nghèo nàn, giáo viên không đủ trình độ thậm chí còn không được cắp sách tới trường. Tình trạng này diễn ra tồi tệ đến mức đã có những bậc phụ huynh than thở: không phải họ cho con em mình tới trường để được học tập, để được giáo dục nữa mà họ đang cố gắng đi “mua cái chữ” cho con em mình. Mà đã đi mua thì ai có tiền mới mua được còn ai không có chắc đành chịu để con em mình thất học!!!


Giờ đây chúng ta hãy cùng tìm hiểu thêm một vài nhận định của giáo sư Hoàng Tụy khi ông nhìn nhận lại nền giáo dục tại Việt nam: Trong một cuộc phỏng vấn với đài Á Châu Tự Do tháng Giêng năm 2007, Giáo sư toán học nổi tiếng Hoàng Tụy nhận định rằng: sự tụt hậu trong ngành giáo dục phổ thông là điều hiển nhiên, mặc dù vẫn có nhiều người tin rằng thành tựu giáo dục là ưu việt. Ông nói điều đầu tiên cần đề cập là hệ thống quản lý bất cập của chính quyền. Giáo sư phân tích rằng tỷ lệ đầu tư cho giáo dục dựa trên tổng thu nhập của Việt Nam không thấp, nhưng phúc lợi đến được với nhu cầu giáo dục thì rất thấp vì sự thất thoát do cơ chế quản lý, do lãng phí, quan liêu và nhất là tham nhũng gây ra. Ông thêm rằng chính những thất thoát ấy đã “cướp mất cả những cơ hội học tập khiêm tốn nhất của nhiều con em và cản trở mọi ý đồ, kế hoạch chấn hưng giáo dục như đã được nhiều bậc thức giả kêu gọi không mệt mỏi từ bao năm nay. Cũng trong một cuộc trò chuyện với phóng viên báo Khuyến Học & Dân Trí, giáo sư Hoàng Tụy nhận định:“Sự giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục lớn trong xã hội Việt nam, trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối. Ngành giáo dục càng không thể là ngành giả dối”[6]. Thế nhưng thực tế cho ta thấy sự giả dối đang bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội ở các tầng nấc. Và sự giả dối trong môi trường giáo dục đang trở nên một căn bệnh trầm kha và cho đến nay ta vẫn chưa tìm được thuốc chữa.


Nếu nhìn vào hệ thống giáo dục hiện nay của Việt nam ta sẽ thấy hình như nền giáo dục của nước ta đã dần dần mất đi phương hướng, không còn rõ giáo dục cho ai, vì ai và để làm gì? Phải chăng đó là kết quả tất yếu của một “triết lý” về cơ bản là không ổn – một triết lý dạy cho con người ta biết sống theo “định hướng xã hội chủ nghĩa”, “sống và làm việc theo các lãnh tụ”? Phải trung thực mà nhìn nhận rằng từ trước đến nay (khoảng từ năm 1975 đến nay- khi cộng sản hoàn toàn đứng lên nắm quyền điều hành đất nước), toàn bộ công tác giáo dục của đất nước Việt nam ta thường chỉ nhắm tạo nên sự thống nhất của xã hội bằng cách: tạo nên những con người về cơ bản suy nghĩ và hành động giống nhau, đồng loạt, theo những chân lý tuyệt đối đã được dạy cho học thuộc lòng, theo đúng “đường lối của đảng và nhà nước”, mà không hề quan tâm đến việc làm sao khơi dậy những khả năng tiềm ẩn nơi con dân Việt nam. Trái lại, đôi khi còn vùi dập những tài năng trẻ đang có triển vọng. Phải chăng khi khư khư nắm chặt lấy triết lý trên và bắt tất cả mọi người tuân giữ là họ đang cố gắng chứng minh cho lối sống vô thần của mình? Như vậy rõ ràng là việc giáo dục này đang đi ngược lại với định nghĩa giáo dục nói chung và quan niệm giáo dục của Công giáo nói riêng mà ta đã minh định ở trên.


Có thể nói rằng chưa bao giờ tiếng chuông báo động về tình hình giáo dục tại Việt nam lại cấp bách như bây giờ. Nghĩa là chúng ta đang đứng trước một tình hình hoàn toàn không chút nào bình thường trong tình trạng báo động về giáo dục, đây không phải là "báo động thường xuyên" như tất cả các nền giáo dục, kể cả các nền giáo dục mà chúng ta đang coi là tiên tiến nhất và đang định học hỏi, noi gương, vẫn báo động, mà đây là "cấp báo", "báo động đỏ". một cấp báo động như vậy tất yếu đòi hỏi không chỉ những sửa chữa cục bộ, vụn vặt, chắp vá, mà một cuộc cách mạng. Một cuộc cách mạng về giáo dục.


4. Vai trò và trách nhiệm của giáo dục Kitô giáo trong nền giáo dục tại Việt nam hiện nay


Như chúng ta biết Giáo Hội, với tư cách là người được giao sứ mạng gìn giữ và loan truyền kho tàng chân lý, đương nhiên Giáo Hội phải nỗ lực tìm mọi cách thế để thực thi sứ mạng giáo dục. Thánh Công Đồng chung Vaticanô II trong Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô giáo (Gravissimum Educationis) đã xác quyết: “Giáo Hội có trách nhiệm giáo dục, không những vì Giáo Hội là xã hội trần gian, phải được thừa nhận có khả năng giáo dục, nhưng nhất là vì Giáo Hội có nhiệm vụ loan truyền cho mọi người biết con đường cứu rỗi, cũng như thông ban sự sống Chúa Kitô cho các tín hữu và luôn lo lắng giúp đỡ họ đạt tới sự viên mãn của đời sống ấy”[7]. Do đó mà Giáo Hội ở mọi nơi và mọi thời, đặc biệt là các dòng tu, cần luôn phát triển trường học kiến thức đời bên cạnh trường dạy các mầu nhiệm Đức Kitô là các thánh đường.


Quả thật ngay từ đầu, Thánh Công Đồng chung Vaticanô II đã khẳng định trong lời mở đầu của bản Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô giáo: “Sứ mạng của Giáo Hội là tạo điều kiện để mọi người đều được hưởng một nền giáo dục Kitô giáo”[8]. Cũng trong Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu số 37, khi đề cập đến vấn đề giáo dục, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Đâu đâu trên Châu Á này ta cũng thấy Giáo Hội dấn thân vào hoạt động giáo dục một cách rõ ràng và rộng rãi. Chính vì thế, đó là yếu tố then chốt cho Giáo Hội có mặt giữa các dân tộc của lục địa này. Tại nhiều nước, các trường Công Giáo đóng một vai trò quan trọng trong việc phúc âm hóa, hội nhập đức tin, giới thiệu những cách sống cởi mở và tôn trọng nhau, cổ võ sự cảm thông giữa các tôn giáo. Các trường học của Công Giáo thường là những nơi duy nhất cung cấp các cơ hội giáo dục cho các thiếu nữ, các dân tộc thiểu số, người nghèo ở thôn quê và trẻ em kém may mắn”[9]. Đó là quan điểm của Giáo Hội, còn các nước cộng sản họ nghĩ như thế nào? Nếu có dịp nhìn lại lịch sử ta sẽ thấy trong các nước cộng sản Đông Âu trước kia, khi xã hội chủ nghĩa còn tồn tại, và ở vài nước cộng sản còn lại ngày nay, trong đó có Việt nam, việc giao cho Giáo Hội đứng ra mở trường lớp là điều còn cấm kỵ, cho dù nhà cầm quyền các nước này thấy mình không đủ khả năng điều hành trường lớp và đang hô hào “xã hội hoá giáo dục”. Không những không Giáo Hội được mở trường học, mà các trường học do Giáo Hội xây dựng và điều hành trước đây (trước năm 1975) cũng bị trưng dụng để làm trường nhà nước. Và mãi cho đến những năm gần đây nền giáo dục của ta mới có một vài điểm đáng lạc quan. Trong đó có điểm đã được nới lỏng như: trước kia nền giáo dục ở nước ta vẫn được coi là lãnh vực độc quyền của Nhà Nước, nay đã được “xã hội hóa”. Theo định hướng đó, tư nhân, thậm chí người nước ngoài, có quyền mở trường tư thục. Nhưng đáng tiếc là đối với các tổ chức tôn giáo tại Việt nam, cánh cửa giáo dục vẫn còn khép chặt: tôn giáo chỉ có quyền mở trường tư thục cấp mẫu giáo. Dù vẫn không ngừng nỗ lực làm tất cả những gì được phép để thể hiện sứ mệnh nhập thế, như mở lớp tình thương, lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo hoặc khuyết tật… Giáo Hội công giáo, với tư cách là tổ chức tôn giáo, vẫn phải đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội Việt nam và vì không có quyền nhập cuộc, đành đóng vai một quan sát viên bất đắc dĩ.


5. Định hướng giáo dục Kitô giáo trong tương lai[10]


Trong bối cảnh Việt nam như vậy, thử hỏi Giáo Hội Việt nam cần phải làm gì để sứ mạng mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội có dịp được trở nên hiện thực? Đó là vấn nạn cần phải đặt ra, nếu chúng ta muốn có những định hướng cụ thể cho sứ mạng giáo dục Kitô giáo của Giáo Hội Việt nam trong tương lai.


Có lẽ đầu tiên và trước hết chúng ta cần xác định lại rằng những công tác chăm lo đời sống cho dân nghèo như: về bảo vệ phẩm giá con người, về chăm sóc sức khoẻ, về giáo dục… không còn phải là những công việc từ thiện đơn thuần của Giáo Hội nữa mà nó phải được coi như một quyền và nghĩa vụ của Giáo Hội nói chung và của mỗi Kitô hữu nói riêng. Giống như trong một gia đình, con cái có quyền được thụ hưởng từ nơi cha mẹ mình tình yêu thương, sự săn sóc dưỡng dục…và cha mẹ cũng phải có quyền và nghĩa vụ thương yêu dạy dỗ và nuôi dưỡng con cái. Thì Giáo Hội cũng vậy, với tư cách là người đại diện Chúa Giêsu, là Trưởng Tử, là Mẹ Thánh, Giáo Hội cũng phải có quyền và nghĩa vụ chăm lo cho con cái mình về mọi phương diện.


 Ngay ở phần mở đầu trong Tuyên Ngôn về Giáo Dục, Giáo Hội một lần nữa khẳng định lại vai trò của mình: “để chu toàn sứ mệnh mà Chúa là Ðấng sáng lập đã trao ban, là loan truyền mầu nhiệm ơn cứu độ cho mọi người và thiết lập mọi sự trong Chúa Kitô, Mẹ Thánh Giáo Hội có nhiệm vụ săn sóc toàn diện đời sống con người, kể cả đời sống trần tục, trong mức độ liên hệ với lời mời gọi của Thiên Chúa. Vì thế Giáo Hội thông phần vào việc mở mang và phát huy nền giáo dục”[11]. Và nếu coi lại “Hiến pháp và quy luật DCCT” số 09 mục b, ta sẽ thấy quy luật nhấn mạnh: “Tu sĩ DCCT không có quyền bỏ qua tiếng kêu của người nghèo và những kẻ bị bóc lột, nhưng có nghĩa vụ tìm phương thức giúp đỡ họ, ngõ hầu, theo sức riêng mình, giúp họ vượt qua những tai ương dồn dập trên họ. Không bao giờ thiếu vắng yếu tố chủ yếu ấy của Tin mừng trong việc rao giảng Lời Chúa”[12]. Chính vì thế có thể nói rằng, các công việc về bảo vệ phẩm giá con người, về y tế, về giáo dục không còn là những công việc chúng ta phải xin cho nữa mà nó chính là cái quyền và nghĩa vụ của chúng ta mà chúng ta phải giành lại cho mình. Đã đến lúc chúng ta: “Không thể tiếp tục gạt các tôn giáo ra bên lề xã hội và biến các tôn giáo thành “người ngoại quốc”, và thậm chí còn bị đối xử không bằng một người ngoại quốc, trên quê hương Việt Nam như thế ! Nếu chính quyền thực sự thương dân thương nước này, nếu chính quyền thực sự tôn trọng tự do tôn giáo, nếu chính quyền thực sự tôn trọng pháp luật, chính quyền phải để cho các tổ chức tôn giáo tham gia vào tiến trình xã hội hoá giáo dục-y tế, cụ thể là được mở trường và lập bệnh viện như những cá nhân và tổ chức khác” (theo quan điểm của cha Vinhsơn Phạm Trung Thành – Giám tỉnh DCCT – trong tham luận về xã hội hoá giáo dục, y tế, từ thiện trình bày trong Hội nghị về xã hội hoá giáo dục y tế tổ chức tại Sài gòn ngày 24 tháng 7 năm 2008).


Bên cạnh đó, Giáo Hội cũng cần xác định lại tính phổ cập của nền giáo dục Kitô giáo: một mặt không miễn trừ trách nhiệm cho bất kỳ ai, một mặt cũng đòi buộc Kitô hữu không được loại trừ bất kỳ đối tượng nào. Muốn thế, Kitô hữu cần quan tâm hơn đến những thành phần thường bị xã hội ruồng rẫy, khinh miệt, lãng quên: người thất học, trẻ em không có điều kiện đến trường, thành phần cô lập do mặc cảm hay bị kỳ thị. Chúa Giêsu khẳng định rằng sứ mệnh hàng đầu của Ngài là loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, lao tù, mù lòa, bị áp bức (Lc 4, 18ss).


Đồng thời, trong bối cảnh công nghiệp hóa của những xã hội đang phát triển, nghề nông thủ công truyền thống không còn đủ lợi tức nuôi sống người lao động, rất nhiều người trong họ không còn con đường nào khác hơn là trở thành di dân về thành thị tìm công ăn việc làm. Họ phải chịu bao nhiêu thứ thiếu thốn thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần trên đất khách quê người. Ðể có thể duy trì phần nào đời sống đức tin có nguy cơ bị công ăn việc làm vùi dập. Họ cần phải hòa mình vào bầu khí đạo đức của các giáo xứ nơi họ tạm cư. Cha xứ và giáo xứ địa phương cũng cần phải sẵn lòng nâng đỡ, chia sẻ, đón tiếp dân, tạo điều kiện để họ sớm hội nhập vào các sinh họat đạo đức và văn hóa nơi họ sinh sống. Lời Chúa và khung cảnh tình thân của giáo xứ là môi trường và là điều kiện cần thiết để an ủi và khích lệ đức tin của họ nơi Thiên Chúa, Ðấng có đủ quyền năng biến cảnh sống tha hương của họ thành cuộc hành hương đầy ý nghĩa hướng về Quê Trời.


Giáo Hội cũng cần xác định và đặt mục tiêu cho mình rằng: thiếu nhi và giới trẻ cũng là những thành phần rất đáng quan tâm ở hàng ưu tiên. Thiếu nhi, những trang giấy trắng đang chờ in những hình ảnh tươi đẹp, cần phải được thụ hưởng một nền giáo dục chân chính về nội dung và hiệu quả về phương pháp, làm vốn liếng hành trang hữu ích cho suốt cuộc hành trình làm người và đức tin. Giới trẻ, "tương lai của Giáo Hội và thế giới" (Huấn Thị về Văn Hoá số 38), cần phải nhận được sự hướng dẫn tận tình từ các nhà giáo dục và các thế hệ đi trước để nhiệt huyết tuổi trẻ của họ thực sự được vận dụng vào công cuộc xây dựng xã hội và Giáo Hội.


Quả thực, nếu xét cho đến kì cùng thì trách nhiệm giáo dục đức tin thuộc về mọi Kitô hữu. Tuy vậy, trong thực tế, các "nhà giáo" mới thực sự là những người được trao phó trách nhiệm giáo dục nguyên nghiệp. Ðức Gioan Phaolô II trong Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân đã thiết tha kêu gọi các giáo viên đang giảng dạy tại các trường Công giáo hay không Công giáo tích cực làm nhân chứng cho Tin Mừng. Như thế ngoài cuộc sống mẫu mực của một nhà giáo, họ còn là đại sứ của Ðức Kitô nơi học đường bằng chính đời sống và lương tâm Kitô hữu. Mọi người sẽ nhìn thấy họ mà gặp được Thiên Chúa.


Mỗi Kitô hữu chúng ta cần luôn ý thức rằng: gia đình là Giáo Hội tại gia, là trường học tự nhiên và căn bản trong nền giáo dục Kitô giáo. Mọi thành viên của gia đình, ông bà, cha mẹ và các anh chị em sống đạo nhiệt thành làm thành truyền thống đức tin gia đình. Nơi đây, đức tin được truyền thụ qua những lời cầu nguyện, lời nhủ bảo, đặc biệt trong những biến cố vui buồn của cuộc sống và qua những mẫu gương đức tin. Gia đình còn là "chiếc nôi của sự sống và tình yêu" (Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội số 209) giúp các phần tử gia đình cảm nghiệm tình yêu và lòng trung thành của Thiên Chúa, đồng thời cũng giúp hình dung trước những mối tương quan liên vị trong xã hội. Quả thật trong nền giáo dục Kitô giáo, gia đình không thể tách rời khỏi giáo xứ. Nếu tại gia đình, đức tin được truyền thụ bằng phương pháp tiếp cận và thực hành, những bài học được giảng dạy ngay giữa thực tế. Tại giáo xứ, đức tin được thông truyền nhờ giảng giải và việc cử hành phụng vụ. Chính khi đối chiếu và đón nhận cảm tưởng của nhau, đoàn kết yêu thương nhau và cầu nguyện chung với nhau, đức tin của Kitô hữu được nuôi dưỡng và củng cố. Vì thế các lớp giáo lý là những phương cách căn bản của giáo dục Kitô giáo, cha xứ cùng với các giáo lý viên sẽ chịu trách nhiệm khai tâm Kitô giáo và huấn giáo cho các học viên chuẩn bị lãnh các bí tích. Tại đây, giáo dân có môi trường thể hiện đức tin với các thành phần khác của cộng đoàn và được tham dự cách ý thức vào các giờ kinh lễ, phụng vụ, bí tích. Ðó là những hình thức tham gia trực tiếp và hữu hiệu vào công trình giáo dục Kitô giáo (x. Tuyên Ngôn về Giáo Dục số 4).


Với tư cách là Mẹ và là Thầy, Giáo Hội Công giáo có bổn phận thông truyền cho mọi người, nhất là các Kitô hữu, một nền giáo dục toàn vẹn. Mục tiêu hàng đầu của giáo dục Kitô giáo là đức tin. Giáo dục đức tin không chỉ là truyền lại cho tín hữu những định tín, nhưng còn giúp cho tín hữu sống đức tin ấy trong cuộc sống cụ thể, vì “đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc. 2, 17). Các tín hữu, nhờ được huấn luyện, sẽ trở thành men, thành muối và ánh sáng cho trần gian. Vì con người là linh hồn nhập thể, khi giáo dục đức tin, Giáo Hội cũng nhằm đến giáo dục con người toàn diện để giúp họ nhận ra phẩm giá của mình. Khi ý thức sâu sắc về phẩm giá của mình, Kitô hữu cũng nhận lấy sứ mạng để sẵn sàng lên đường loan truyền Tin Mừng Chúa Kitô cho người chưa tin và củng cố lòng tin của anh chị em mình. Phẩm giá Kitô hữu luôn là những bài học suốt đời còn tiếp tục, vì tín hữu mãi là khách hành hương. Phẩm giá ấy đang hình thành và sẽ chỉ thành toàn vào ngày cánh chung. Cũng như sứ mạng tín hữu mãi mãi là được sai đi, tới cánh đồng lúa chín đang thiếu thợ gặt (x. Mt 9, 37). Vấn đề giáo dục Kitô giáo ở đây hôm nay là quyết tâm bồi dưỡng phẩm giá để thực thi sứ mạng và càng biết thực thi sứ mạng, phẩm giá lại càng được củng cố hơn.


Bên cạnh đó, con người sống trong xã hội không phải là một ốc đảo, nhưng liên đới với nhau trong niềm vui cũng như ưu sầu. Xã hội tính là một nét nổi bật của con người. Giáo dục Kitô giáo góp phần cổ võ tình liên đới, làm cho con người có trách nhiệm với nhau, trách nhiệm đối với xã hội và công ích, cùng xây dựng một cuộc sống tốt đẹp an bình. Giáo dục Kitô giáo cũng phải nhấn mạnh việc huấn luyện lương tâm: Huấn luyện lương tâm không chỉ là giảng dạy cho nhau những mệnh lệnh của hệ thống luật luân lý nhưng còn là tập cho nhau hồn nhiên lắng nghe lòng mình phán đoán thiện ác. Bởi vì "lương tâm là luật tự nhiên vốn phản ảnh phẩm giá con người và đặt nền tảng cho các nghĩa vụ căn bản của con người" (Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội số 140), nên "lương tâm ngay thẳng càng thắng thế thì những cá nhân càng tránh được độc đoán, mù quáng và càng nỗ lực tuân phục những tiêu chuẩn khách quan của luân lý"[13] ) . Khi có lương tâm ngay thẳng, con người sẽ dễ dàng cộng tác để xây dựng cuộc sống công bằng, tôn trọng phảm giá và sự sống con người hơn.


Sau hết, vì luôn là một sinh hoạt gắn liền với một không gian nhất định, giáo dục phải được liên kết với truyền thống văn hóa của không gian ấy. Ðặt vấn đề giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam có nghĩa là đặt vấn đề phát huy truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc chúng ta luôn tự hào về tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo. Truyền thống ấy nếu trong quá khứ đã góp phần làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và sản sinh những danh nhân làm vẻ vang đất nước, thì nay phải trở thành một trong những tiêu chí của nền giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam. Có thể nói đây là một trong những trăn trở của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (được nêu lên trong Tông Huấn Giáo Hội tai Á Châu). Trong đó, ngài đã nhắc nhở con cái mình phải làm sao có được tinh thần bổ sung và phối hợp hài hòa với nhau ngõ hầu trong lãnh vực giáo dục cũng như trong lãnh vực rao giảng Tin Mừng sao cho vừa trung thành với truyền thống của mình vừa không phản bội cái hồn Châu Á[14] (x. Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu số 6)


Thay lời kết 


Nói chung, trong bối cảnh xã hội Việt nam ngày hôm nay, việc Giáo Hội muốn đóng góp phần nào vai trò và trách nhiệm của mình trong nền giáo dục con người tại Việt nam là một vấn đề không dễ giải quyết bởi nhà nước có vô vàn lý do để trì hoãn việc chấp thuận cho Giáo Hội Công Giáo mở trường dạy học. Nhưng vì tương lai con người Việt nam, vì sự phát triển xã hội, việc Giáo hội tham gia vào công cuộc giáo dục cần phải được khích lệ và thực hiện nhanh chóng. Nhất là khi đứng trước sự thay đổi choáng ngợp của nền văn minh thời đại. Nó không cho phép chúng ta chần chừ trì hoãn. Nếu chúng ta không muốn bị đẩy vào nguy cơ tụt hậu. Hơn bao giờ hết Giáo Hội Việt nam cần đẩy mạnh hơn nữa phương châm mà chúng ta đã nêu cao trong bức “Thư Chung 2007 về Giáo Dục Kitô Giáo” là: "Giáo dục hôm nay, xã hội và Giáo Hội ngày mai".

________________________________

[1]x. Mc 16, 15a
[2]Tô Phán, “Coi rẻ con người”, báo Lao Động, Thứ ba, 06-06-2006
[3]http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Tu-chuyen-92-giao-vien-o-Ca-Mau-xai-bang-gia/40077274/478/
[4]Tô Phán, “Coi rẻ con người”, báo Lao Động, Thứ ba, 06-06-2006
[5]http://vietbao.vn/Giao-duc/Nhung-tieu-cuc-benh-thanh-tich-noi-com-trong-giao-duc/40171128/202/
[6]Bùi Hoàng Tám, “Bệnh giả dối đang thành một nỗi nhục lớn”, báo Khuyến Học & Dân Trí, thứ sáu , 28-11- 2008
[7]x. Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô giáo, số 3, tr 449
[8]x. Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, Tuyên Ngôn về Giáo Dục, số 2, tr 447
[9]x.Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu, số 37, tr 120
[10]Trong phần này có lược trích một phần “Thư Chung 2007 về Giáo Dục Kitô Giáo”, số 22tt
[11]x. Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô giáo, lời mở đầu, tr 443
[12]x. Hiến pháp và quy luật DCCT, số 09, mục b, tr 107
[13]x. Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes số 16, tr 748
[14]x.Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu, số 6, tr 35

Tác giả:
Nguyện xin THIÊN CHÚA chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho Quê hương và GHVN bay lên!